Nhiều nhà khoa học trở về Việt Nam mang theo tri thức, khát vọng đổi mới và tinh thần cống hiến góp phần kiến tạo nền khoa học Việt Nam.
Trong bối cảnh Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai đồng bộ, xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt phát triển đất nước, nhiều chính sách thu hút và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao đã được đẩy mạnh.
Từ định hướng đó, ngày càng nhiều nhà khoa học trẻ, tài năng được đào tạo bài bản ở nước ngoài lựa chọn trở về, mang theo tri thức, kinh nghiệm và khát vọng cống hiến, góp phần nâng tầm khoa học Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Sẵn sàng cho những bứt phá dài hạn
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc), có thời gian dài làm việc tại Anh và Hàn Quốc. Trước khi về nước, thầy Ngọc là trợ lý giáo sư tại Đại học Dongguk (Hàn Quốc). Tháng 3/2025, thầy Ngọc về Việt Nam làm việc theo diện thu hút của Chương trình thu hút, giữ chân và phát triển 350 nhà khoa học trẻ xuất sắc, nhà khoa học đầu ngành về công tác tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chương trình VNU350) trong giai đoạn 2024-2030. Hiện, thầy Ngọc là giảng viên Khoa Cơ khí, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc chia sẻ: “Sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy tại Anh và Hàn Quốc, tôi phải thừa nhận môi trường quốc tế mang lại điều kiện nghiên cứu rất tốt, nguồn lực dồi dào cũng như mạng lưới hợp tác rộng. Tuy nhiên, tôi nhận ra Việt Nam đang ở giai đoạn tiềm năng, những chính sách mới của Nhà nước sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển về giáo dục cũng như khoa học công nghệ.
Vì vậy, tôi muốn trở về góp phần xây dựng một nhóm nghiên cứu mạnh, đào tạo thế hệ trẻ và áp dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn của đất nước, thay vì chỉ làm nghiên cứu “thuần túy” ở nước ngoài. Không chỉ vậy, gia đình, văn hóa và cảm giác “cống hiến tại quê nhà” là động lực lớn nhất khiến tôi quyết định trở về”.
Thầy Ngọc chia sẻ thêm, hướng nghiên cứu chính của thầy khi trở về nước là tập trung vào tính toán, mô phỏng, tối ưu hóa kết cấu, kết hợp ứng dụng học sâu trong phát triển vật liệu tổng hợp (composite) tiên tiến phục vụ lĩnh vực cơ khí, ô tô và hàng không. Hiện tại, thầy đang ưu tiên xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh tại Khoa Cơ khí, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa mô phỏng số và thực nghiệm. Mục tiêu nhằm phát triển các mô hình, giải pháp cơ khí có tính ứng dụng cao, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình công nghiệp hóa và nhu cầu của doanh nghiệp.

Thầy Ngọc cho biết, trước khi quyết định trở về nước, thầy đã lường trước những khó khăn trong giai đoạn đầu công tác. Dù vậy, thầy vẫn kỳ vọng vào một môi trường làm việc chuyên nghiệp, trong đó thủ tục hành chính được tinh gọn, có cơ chế khuyến khích sáng tạo rõ ràng và thúc đẩy hợp tác liên ngành.
Về điều kiện nghiên cứu, thầy mong muốn được làm việc trong những phòng thí nghiệm hiện đại, có nguồn kinh phí ổn định cho dự án nghiên cứu dài hạn nhằm dễ dàng tạo điều kiện hỗ trợ nghiên cứu sinh và sinh viên. Bên cạnh đó, cần cơ chế hợp tác thông thoáng với doanh nghiệp để đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Theo thầy Ngọc, chương trình VNU350 đã hấp dẫn được nhiều nhà khoa học nhờ chính sách hỗ trợ vượt trội như kinh phí nghiên cứu, lộ trình thăng tiến rõ ràng trong 5 năm đầu và một số đãi ngộ khác. Tính đến thời điểm hiện tại, chương trình thu hút được hàng chục nhà khoa học trở về từ các trường top thế giới như Đại học Quốc gia Singapore, Viện Công nghệ California, Đại học Quốc gia Seoul…
Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số rào cản mang tính đặc thù khiến không ít nhà khoa học do dự khi quyết định “hồi hương”. Chẳng hạn, các tiến sĩ đã có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy ở nước ngoài khi trở về phải bắt đầu lại quy trình xét chức danh giáo sư, phó giáo sư theo khung quy định chung của Nhà nước, dù đã sở hữu kinh nghiệm sư phạm và thành tích nghiên cứu quốc tế nổi bật. Vì vậy, chương trình thu hút nhà khoa học cần có cơ chế công nhận phù hợp hoặc linh hoạt hơn trong việc chuyển tiếp, đánh giá kinh nghiệm, thành tựu quốc tế vào lộ trình thăng tiến học thuật trong nước. Khi điểm nghẽn này được tháo gỡ, các nhà khoa học sẽ yên tâm trở về, gắn bó và cống hiến lâu dài.

Cùng trở về theo diện thu hút của chương trình VNU350, tháng 7/2025, Tiến sĩ Bùi Tấn Tân về công tác tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò giảng viên Bộ môn Công nghệ Vật liệu Polyme, Khoa Công nghệ Vật liệu. Trước đó, Tiến sĩ Bùi Tấn Tân tốt nghiệp tiến sĩ ngành Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu tiên tiến tại Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc) và có khoảng 8 năm học tập, công tác tại Hàn Quốc.
Tiến sĩ Bùi Tấn Tân cho biết, sau khi tìm hiểu chính sách thu hút nhân lực khoa học của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, với nhiều cơ chế đãi ngộ dành cho nhà khoa học trẻ tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài và các điều kiện phù hợp với định hướng chuyên môn nên đã quyết định quay trở về Việt Nam làm việc.
“Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành những chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó công nghệ bán dẫn được xác định là hướng nghiên cứu chiến lược, có đầu tư dài hạn. Đây là lĩnh vực tôi đang theo đuổi và có tiềm năng phát triển rất lớn trong nước, từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng.
Các chính sách này tạo điều kiện thuận lợi về môi trường nghiên cứu, nguồn lực cũng như cơ chế hỗ trợ, giúp tôi có thêm động lực trở về làm việc, tiếp tục phát triển các hướng nghiên cứu, đồng thời vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy được trong môi trường quốc tế để đóng góp cho Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Khi quyết định trở về làm việc trong nước, tôi kỳ vọng sẽ được tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường nghiên cứu và nguồn kinh phí cho đề tài nghiên cứu khoa học. Đây là những yếu tố để tôi có thể triển khai hiệu quả hướng nghiên cứu đã được đào tạo và tích lũy trong thời gian làm việc ở nước ngoài.
Bên cạnh đó, tôi mong muốn có sự kết nối chặt chẽ giữa các nhóm nghiên cứu, đặc biệt trong khuôn khổ chương trình VNU350, nhằm tăng cường giao lưu học thuật, trao đổi hướng nghiên cứu và mở rộng cơ hội hợp tác liên ngành”, thầy Tân bày tỏ.

Chia sẻ thêm về định hướng nghiên cứu, thầy Tân cho biết: “Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, các ngành công nghiệp bán dẫn đặt ra yêu cầu ngày càng cao về nghiên cứu chuyên sâu cũng như đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học cần đồng thời tăng cường năng lực nghiên cứu và hoàn thiện chương trình đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn phát triển của ngành, qua đó đáp ứng nhu cầu của xã hội và thị trường lao động.
Trong thời gian tới, Khoa Công nghệ Vật liệu sẽ “vận hành” ngành đào tạo về kỹ thuật bán dẫn. Đây là cơ hội để tôi tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nội dung đào tạo theo chuẩn quốc tế, đưa kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy tích lũy được trong thời gian làm việc ở nước ngoài vào chương trình học, đồng thời góp phần hình thành hoạt động nghiên cứu gắn với đào tạo, phục vụ mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực bán dẫn”.
Cần xây dựng chính sách thu hút, giữ chân “đúng và trúng”
Thực tiễn triển khai chương trình thu hút nhân lực chất lượng cao cho thấy, bên cạnh chính sách đãi ngộ ban đầu, vấn đề xây dựng môi trường nghiên cứu cởi mở, cơ chế linh hoạt và lộ trình phát triển rõ ràng đóng vai trò quyết định để đội ngũ này yên tâm gắn bó, đóng góp lâu dài cho nghiên cứu, đào tạo và hoạch định chính sách.
Tiến sĩ Đào Hưng tốt nghiệp thạc sĩ ngành Hành chính công và tiến sĩ ngành Chính sách công tại Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc) quyết định trở về Việt Nam sau 7 năm học tập, làm việc tại nước ngoài. Tháng 11/2025, thầy Hưng về công tác tại Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò giảng viên Bộ môn Quản lý công, Khoa Quản trị kinh doanh.
“Quyết định trở về của tôi bắt nguồn từ mong muốn được cống hiến cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt vào thời điểm Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa vươn mình. Tôi đã tìm thấy cơ hội lý tưởng tại chương trình VNU350 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Với chương trình này, tôi tìm thấy sự đồng điệu giữa hoài bão cá nhân và những chính sách đãi ngộ, hỗ trợ thực chất từ Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để tôi có thể hiện thực hóa mong muốn cống hiến cho giáo dục nước nhà”, thầy Hưng bày tỏ.

Thầy Hưng chia sẻ thêm, khi quyết định trở về, kỳ vọng đầu tiên của thầy là tìm được một môi trường học thuật cởi mở, nơi có thể xây dựng các nhóm nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh đó, có thể ứng dụng các kinh nghiệm, kiến thức đã tích lũy được trong thời gian làm việc ở nước ngoài vào môi trường giáo dục tại Việt Nam.
“Qua thực tế làm việc, tôi nhận thấy điều kiện nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh không hề lệch nhiều so với môi trường trước đây tôi từng học tập và công tác là Đại học Quốc gia Seoul (Hàn Quốc). Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và Trường Đại học Kinh tế – Luật nói riêng rất năng động, chuyên nghiệp, cạnh tranh và tạo động lực phát triển chuyên môn tốt.
Đặc biệt, nhà trường đã xây dựng được một hệ sinh thái nhằm hỗ trợ các nhà khoa học trẻ phát triển. Những chính sách như ưu tiên nguồn lực cho đề tài trọng điểm hay hỗ trợ thành lập nhóm nghiên cứu không chỉ là cam kết trên lý thuyết mà là hành động thực chất. Có thể nói, thực tại và kỳ vọng cá nhân của tôi có sự tương đồng lớn, giúp tôi yên tâm tập trung vào lộ trình học thuật lâu dài”, thầy Hưng nhấn mạnh.
Chia sẻ thêm về hướng nghiên cứu chính trong thời gian tới thầy Hưng cho biết sẽ tập trung vào Chính phủ số, Chính phủ thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khu vực công. Với định hướng này, thầy nhận được sự quan tâm và tạo điều kiện từ nhà trường, khoa và bộ môn để tập trung triển khai nghiên cứu, đồng thời tích hợp các nội dung liên quan vào chương trình giảng dạy cũng như kế hoạch nghiên cứu tổng thể của bộ môn.
Bên cạnh đó, mạng lưới hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường, khoa và bộ môn với chính quyền Trung ương, địa phương cùng các tổ chức khu vực công, đã tạo cho thầy nhiều cơ hội tiếp cận thực tiễn, vượt ra khỏi khuôn khổ nghiên cứu lý thuyết đơn thuần. Thông qua việc trực tiếp làm việc, trao đổi và hợp tác với cơ quan và đội ngũ cán bộ tại địa phương, thầy Hưng có điều kiện tham gia vào quá trình nhận diện và cùng giải quyết những bài toán thực tiễn của quản trị công và quản trị quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh nền hành chính Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ.
Thầy Hưng tin rằng, với xu thế đổi mới và toàn cầu hóa, nền khoa học nước nhà sẽ sớm tiệm cận các chuẩn mực chung của khu vực và thế giới.
Để thu hút thêm nhiều nhà khoa học trẻ, tài năng từ nước ngoài về Việt Nam làm việc, thầy Hưng cho rằng, cần phân định rõ hai giai đoạn thu hút và giữ chân. Công tác thu hút hiện đã được thực hiện khá hiệu quả thông qua chính sách đãi ngộ tốt, điều kiện làm việc phù hợp và lộ trình thăng tiến rõ ràng.
Đối với giai đoạn giữ chân, yếu tố quyết định chính là sự lắng nghe và tinh thần cầu thị từ phía đơn vị sử dụng lao động. Đây là chìa khóa giúp nhà khoa học thích nghi và dần xây dựng văn hóa nghiên cứu mới tại đơn vị.
Minh chứng rõ nét nhất là cơ chế “vòng phản hồi” của chương trình VNU350 đang hoạt động khá hiệu quả. Những vướng mắc thực tế được tiếp nhận, điều chỉnh nhanh chóng và giải quyết dứt điểm. Chính sự phản ứng linh hoạt và thực chất này đã tạo nên niềm tin, giúp các nhà khoa học yên tâm gắn bó và cống hiến lâu dài.

Trong khi đó, Tiến sĩ Bùi Tấn Tân cho rằng, cần có chính sách phù hợp với nhu cầu thực tế của đội ngũ này. Đối với các nhà nghiên cứu được đào tạo bài bản ở nước ngoài, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở mức thu nhập hay đãi ngộ ban đầu, điều quan trọng nhất là có môi trường làm việc, nghiên cứu cởi mở, chuyên nghiệp, khuyến khích tính sáng tạo.
Cùng với đó, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu đầy đủ, đồng bộ và điều kiện làm việc phù hợp là nền tảng để triển khai nghiên cứu một cách hiệu quả. Đây là yếu tố giúp nhà khoa học có thể tiếp tục phát huy năng lực chuyên môn, thay vì phải điều chỉnh hoặc thu hẹp hướng nghiên cứu do hạn chế về điều kiện thực tế.
Cơ chế hỗ trợ nghiên cứu cũng cần được xây dựng theo hướng ổn định và linh hoạt, tạo điều kiện để nhà khoa học chủ động phát triển hướng nghiên cứu dài hạn, gắn với chiến lược phát triển của đơn vị và quốc gia.
Khi các điều kiện về môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất và cơ chế được bảo đảm, nhà khoa học sẽ yên tâm công tác, tiếp tục phát triển chuyên môn và đóng góp thiết thực cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo cũng như sự phát triển của khoa học – công nghệ trong nước.
Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc, ngoài những chính sách hiện nay, cần bổ sung thêm một số chính sách để không chỉ thu hút mà còn giữ chân nhà khoa học dài hạn, tránh tình trạng “về rồi lại đi” sau vài năm.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế tự chủ cao cho nhóm nghiên cứu như nước ngoài. Đây là yếu tố quyết định nhà khoa học có thể phát huy tối đa năng lực hay không. Trong đó, nhà khoa học có quyền sử dụng kinh phí linh hoạt hơn, không bị ràng buộc quá chặt vào các hạng mục chi tiêu cố định, cho phép chuyển đổi giữa mua sắm thiết bị, hỗ trợ nhân sự, đi công tác quốc tế, miễn là có báo cáo chi tiết rõ ràng.
Tiếp đó, nhà khoa học nên có quyền tuyển dụng và quản lý nhân sự theo dự án như được phép tuyển nghiên cứu viên sau tiến sĩ (postdoc), kỹ thuật viên, hoặc trợ lý nghiên cứu theo hợp đồng dự án.
Cuối cùng, cần có chính sách giữ chân theo hướng dài hạn, trong đó lộ trình thăng tiến lên chức danh giáo sư, phó giáo sư phải được thiết kế rõ ràng. Việc thí điểm trao quyền tự công nhận, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư cho Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hiệu quả bước đầu trong việc thu hút và giữ chân nhà khoa học. Trên cơ sở đó, cần xây dựng quy định công nhận và chuyển tiếp kinh nghiệm quốc tế vào quy trình xét chức danh, như quy đổi tương đương các công bố quốc tế, dự án nghiên cứu, hoạt động hướng dẫn sinh viên ở nước ngoài; cho phép xét duyệt sớm dựa trên thành tích học thuật và đóng góp thực tế, thay vì chủ yếu dựa vào số năm công tác trong nước.












































































